• Microsoft Word - Document4


  •   
  • FileName: niemphatchuyenhoaungthu.pdf [read-online]
    • Abstract: thứ bệnh nan y chưa có thuốc đặc trị, ai vướng phải nó như vướng phải án tử hình, nhất định sẽ bị tra khảo, ... trị lành bệnh tật cả hai mặt thân tâm, là ánh sáng xua tan vũng tối sợ hãi, là nhịp cầu cảm thông giữa chư Phật. và chúng sinh, là ...

Download the ebook

Lời Người Dịch
Bệnh tật đeo theo để khổ đời
Con người vì bệnh phải mòn hơi
Bệnh xui quân tử không tròn chí
Bệnh khiến nam nhi phải lỡ thời
Bệnh chuyển trần gian thành địa ngục
1
Bệnh mờ non nước áng mây trời
Phải chăng không bệnh là hy hữu?
Nên mộng xuân hồng phải tả tơi!
Một nhà thơ nào đó đã đặc tả bệnh khổ, một trong ba nỗi khổ lớn nhất của nhân sinh, đầy hình tượng mà
cũng vô hình chân thực. Thực vậy, già, bệnh, chết là ba cửa ải phải qua của đời người, mà trong đó bệnh khổ
mang tính quyết định. Nếu già mà tỉnh táo, khỏe mạnh, chết mà nhẹ nhàng, thanh thản thì cũng không phải là
điều đáng sợ; chỉ có bệnh khổ dày vò thân tâm, khiến chúng ta cầu sống không được, muốn chết không xong
mới là điều đáng sợ nhất. Thế nên có người bảo: “Tôi không sợ chết, chỉ cần khi chết ra đi nhẹ nhàng, không bị
bệnh tật hành hạ đau đớn.”
Nhưng thực ra, sợ chết vốn là bản năng, chấp ngã của con người. Dù lúc bình thời mình có hiểu vô
thường và nói cứng bao nhiêu, nhưng khi đối diện cái chết, trước nỗi đau đớn dày vò, cũng như nghiệp lực quá
khứ quấy nhiễu, nếu bình thời không có công phu đắc lực, thử hỏi mấy ai là có thể không hốt hoảng sợ hãi,
trước vọng tưởng “cái ta” sắp mất của mình?
Thực đúng, như những gì mà Thiền sư Quy Sơn đã nói: “Một mai nằm bệnh ở giường, các khổ trói trăn
bức bách, sớm chiều lo nghĩ, tâm ý bàng hoàng, đường trước mịt mờ, không biết về đâu? Lúc đó mới biết ăn
năn, như khát mới mong đào giếng, chỉ hận sớm chẳng lo tu, đến già nhiều điều lầm lỗi. Lâm chung rối loạn,
lưu luyến bàng hoàng.”
“Sinh từ đâu đến, chết đi về đâu?” Đây là câu hỏi mà phần lớn chúng ta vẫn mê mờ không rõ. Thế
nhưng khi còn khỏe mạnh, chúng ta lại không biết dùng thời gian và năng lực quý báu để tìm câu giải đáp; đợi
đến bệnh nặng sắp chết mới bàng hoàng lo sợ, thử hỏi lúc ấy có kịp không?
Trong các thứ bệnh, có lẽ ung thư là căn bệnh mà người ta sợ hãi nhất vì mọi người đều nghĩ đây là một
thứ bệnh nan y chưa có thuốc đặc trị, ai vướng phải nó như vướng phải án tử hình, nhất định sẽ bị tra khảo,
hành hạ đến chết.
Duyên lành thay, đức Phật và các vị thiện tri thức đã chỉ cho chúng ta một con đường thấu thóat: đó là
quán chiếu bản chất vô thường, vô ngã của nhân sinh, sửa đổi tư tưởng và cách sống của mình, phát huy nguồn
ánh sáng vô lượng trong tự tâm, soi sáng cho mình và người trong cõi đời tăm tối. Lại thêm, chỉ cần có tâm sám
hối, có niềm tin chắc chắn mở rộng tâm mình đón nhận ánh sáng nhiếp thọ của đức Phật A Di Đà và mười
phương chư Phật, chúng ta sẽ thể nghiệm được sức Phật thực không thể nghĩ bàn, sức niệm Phật cũng không
thể nghĩ bàn, có thể chuyển hóa bệnh khổ thành an vui, biến đổi Ta bà thành Tịnh độ. Hành trạng sống quên
mình, chết an nhiên của các vị cao tăng, đại đức và những ai chân thực niệm Phật là bằng chứng đầy sức thuyết
phục cho khả năng vi diệu, bất khả từ nghì của Phật pháp.
Vạn hạnh Thiền sư bảo:
“Tùy cảnh thạnh suy không sợ hãi”
Tuệ Trung Thượng sĩ nói: “Sinh tử thấu đáo rồi, nhàn vậy thôi.”
Cũng như vậy, hành giả Tịnh độ đủ lòng tín nguyện, biết rõ và chắc nẻo về của mình: “Hiện tại sống an
lạc, tương lai sinh Cực Lạc.”
Do đó, bệnh khổ không phải là không có lối thoát, chẳng qua chúng ta có biết cách thoát cũng như đủ
niềm tin và công phu để thoát hay không. Cho nên:
Nếu biết giữ tâm mình không bệnh
Tử sinh nhìn lại chỉ trò chơi!
“Thân bệnh mà tâm không bệnh,” đây không phải là câu nói suông mà đã được chứng thực qua cuộc
đời của Pháp sư Đạo Chứng. Pháp sư là một vị chuyên trị ung bướu trước kia, sau đó trở thành bệnh nhân ung
thư, và cuối cùng xuất gia tu hành, thắng vượt bệnh khổ. Với bi nguyện giúp đời, Pháp sư đã dấn thân vào nẻo
khổ , cùng an ủi, khích lệ và chỉ dẫn cho những ai cùng trong cảnh ngộ. Tác phẩm Niệm Phật Chuyển Hóa tế
Bào Ung Thư này chính là ghi lại những lời giảng dạy vô giá của Pháp sư.
Trên con đường nhân sinh, nhiều gập ghềnh lại lắm hầm hố chông gai này, thử hỏi đã bao lần chúng ta
vấp ngã? Có kẻ bỏ cuộc, có người tự đứng lên, song phần lớn là phải nhờ thiện tri thức dìu đỡ.
Như các vị Thiền sư trong quá khứ, Pháp sư Đạo Chứng là một vị thiện tri thức vĩ đại của bệnh nhân
ung thư trong thời hiện đại. Người đã dìu đỡ chúng sinh vượt qua vũng tối sợ hãi trước cửa ải bệnh khổ, tìm ra
nguồn sáng nơi đức Phật Vô Lượng Quang. Người cũng lấy thân mình làm gương, thị hiện thân bệnh mà tâm
không bệnh, dùng trí tuệ từ bi và phong thái tự tại giữa bệnh khổ để an ủi, khích lệ và chỉ dạy chúng ta thấy
được bản chất nhân sinh, phát huy ánh sáng sinh mệnh, nhằm soi rọi và sưởi ấm cho mình và người. Quả thực
như Pháp sư nói: Chúng ta không thể quyết định chiều dài của sinh mệnh, nhưng chúng ta có thể quyết định
chiều rộng và chiều sâu của sinh mệnh. Cho nên, học sống một ngày là biết ơn một ngày, học sống một hôm có
ý nghĩa một hôm. Vì vậy:
Cho dù ngày mai tận thế,
2
Đêm nay sen vẫn trồng
Đem lòng gió mát trăng thanh
Xưng tán A Di Đà Phật.
Quyển sách này còn bao gồm bốn bài chia sẻ tâm đắc của các giáo sư, tiến sĩ hay bác sĩ. Đây đều là
những vị có kinh nghiệm bệnh khổ và chiến thắng bệnh tật, vì tất cả từng là bệnh nhân ung thư! Song nhờ biết
chuyển hóa tâm niệm, thay đổi cách sống, phát huy tiềm năng sinh mệnh, mà có vị sống đến hơn ba mươi năm
sau khi bác sĩ tuyên án tử trong vòng sáu tháng! Quan trọng hơn nữa, họ đã tìm được dòng sinh mệnh vô tận
trong đời sống hữu hạn, phong thái tự tại, biết ơn và vị tha giữa thế giới vô thường. Điều này khiến chúng ta
càng tin tưởng vào sự vi diệu của Chánh pháp, tiềm năng vô tận của sinh mệnh và sức gia hộ không thể nghĩ
bàn của chư Phật!
Mỗi dòng trong nguyên tác là một chuỗi châu ngọc vô giá, đem lại nguồn an ủi và khích lệ vô biên cho
người đọc. Mỗi tư tưởng của tác giả là một nguồn ánh sánh thanh tịnh, soi rọi thân tâm chúng ta khiến mê lầm
tan biến, còn lại tâm mát mẻ sáng trong. Chúng ta có thể cảm nhận trí tuệ và tâm từ bi của Pháp sư đã đem lại
niềm tin và an lạc cho mình ngay trong giây phút hiện tại.
Cho nên, quyển sách này là thiện tri thức cho những ai đang sống trong bệnh khổ, là thuốc diệu Già Đà
trị lành bệnh tật cả hai mặt thân tâm, là ánh sáng xua tan vũng tối sợ hãi, là nhịp cầu cảm thông giữa chư Phật
và chúng sinh, là chỗ quay về nương tựa cho những tâm hồn bơ vơ, lạc lõng.
Bút giả đã đem tâm chí thành, tri ân để dịch tác phẩm này. Cầu nguyện chư Phật gia hộ dịch phẩm có
thể chuyên chở nguyên vẹn tâm từ bi, trí tuệ của Pháp sư và các vị thiện tri thức đến với người đọc. Cũng như
cầu nguyện những ai có duyên đọc được, bệnh khổ sẽ tiêu trừ, tăng trưởng niềm tin, tìm được ánh sáng vô tận
của sinh mệnh và ý nghĩa đích thực của nhân sinh, để sống những tháng ngày thực sự an lạc và hữu ích.
Trong khi phiên dịch, bất chợt bút giả lãnh hội ý chỉ của đức Phật Dược sư, vị Phật trị lành bệnh khổ,
kéo dài thọ mạng của chúng sinh, không khác đức Phật A Di Đà phóng quang tiếp dẫn; tất cả đều là dòng sinh
mệnh vô tận (Vô Lượng Thọ) và nguồn sáng vô lượng (Vô Lượng Quang) trong bản tâm thanh tịnh của chúng
ta. Chỉ cần tiếp xúc được nguồn sống này, thì Đông và Tây không khác, sinh và tử như giấc mộng đêm qua,
ngay Ta Bà uế trược đã xây dựng Tịnh Độ trang nghiêm. Trong niềm xúc cảm và tri ân này, bút giả xin ghi lại
nơi đây bài Sám nguyện Dược Sư để chia sẻ cùng đại chúng, thay cho lời kết luận:
Con quỳ đảnh lễ Phật Dược Sư
Ngưỡng nguyện quy y đấng Đại Từ
Phóng quang gia hộ cho đệ tử
Sáng tỏ đường về cõi Vô Dư
Bao kiếp qua rồi bởi si mê
Gây nên nghiệp chướng rất nặng nề
Chiêu cảm thân tâm nhiều bệnh khổ
Nguyện xin sám hối hết mọi bề
Bỏ ác làm lành, nguyện phóng sanh
Từ bi hỷ xả gắng tu hành
Chuyển hóa nghiệp nhân nhiều đời trước
Nạn tai tiêu sạch hưởng quả lành
Nam mô Dược Sư Lưu Ly Quang
Nguyện lớn độ người khắp thế gian
Gia hộ cho con lìa bệnh khổ
Tùy cơ cảm ứng chẳng nghĩ bàn
Nam mô Dược Sư Lưu Ly Quang
Thân dù bệnh khổ chẳng được an
Tâm giữ vững vàng luôn chánh niệm
Tây phương chờ sẵn đóa sen vàng.
Nam mô Dược Sư Lưu Ly Quang
Nguyện học hạnh Ngài cứu thế gian
Diệu pháp cho đời vơi đau khổ
Trăm ngàn gian khó chẳng từ nan.
3
Nam mô Sinh Tử Tự Tại, Hoan Hỉ Trang Nghiêm Bồ Tát Ma Ha Tát.
Nguyện đem đất ở Ta bà
Trồng sen Tịnh độ, chín tòa ngát hương!
Thích Minh Quang kính ghi
Tịnh thất Hàn Mai, ngày 27/7/2005
NIỆM PHẬT
CHUYỂN HÓA TẾ BÀO UNG THƯ
Vướng phải bệnh ung thư hay bệnh nan y nào khác, phải làm cách nào đây?
Giả sử bạn là một người tin Phật, niệm Phật đã đến trình độ tâm an nhiên, hoan hỷ thì không cần phải
nói gì nữa. Còn như bạn chưa chuẩn bị gì cả, mà bỗng nhiên phát hiện ra mình mắc bệnh ung thư, hay một căn
bệnh nan y nào khác, nên trong lòng đau khổ, cuộc sống đầy lo lắng bất an, không biết phải làm cách nào, vậy
chúng ta có thể an ủi, khích lệ lẫn nhau.
Tôi vốn là một bác sĩ trị bệnh ung thư, mà lại trở thành bệnh nhân ung thư! Có thể vì lý do này, bạn cho
rằng tôi là một bác sĩ vừa dở lại vừa dốt, bản thân còn lo chưa xong, thì nói chi làm được việc gì.
Vâng, quả thực là như vậy! Rất nhiều người cười tôi. Tôi cũng cảm thấy bản thân mình đáng cười, một
người bác sĩ ngu dốt! Song thực ra, trên đời này, chẳng có một bác sĩ nào mà không mắc bệnh. Càng tìm không
ra một bác sĩ nào có thể bảo đảm rằng mình không bệnh, không chết!
Cho nên, kinh nghiệm mà bản thân tôi trải qua, tuy có một chút đáng cười, song nếu như bạn từ bi
không chê bỏ, xin thử kiên nhẫn lắng nghe. Cho dù là vài tờ báo cũ rách, cũng có thể giúp bạn gói chiếc bình
hoa xinh đẹp, quý giá của mình, bảo vệ khiến nó không đến nỗi bị va vỡ; một ngọn nến với ánh sáng mờ nhạt
mà lúc bình thường không đáng chú ý, lại có thể giúp bạn vượt qua một đêm gió bão, tối tăm, lúc không có
điện.
Xin bạn hãy xem tôi như vài tờ báo cũ rách, giúp bạn bảo vệ chiếc bình hoa quý giá của mình. Tôi cũng
rất sẵn lòng làm một ngọn nến nhỏ, bầu bạn với bạn trong một đêm mưa bão tối tăm, thiếu ánh đèn soi sáng
trong cuộc đời!
Đường núi gập ghềnh tăm tối, nguyện cùng nhau kết bạn đồng hành.
4
Những năm gần đây, thường có một số bạn mắc bệnh ung thư, do thấy các giáo sư ở Liên Xã Đài Trung
lần lượt xuất bản những quyển sách nhỏ được ghi lại từ băng giảng của tôi, nên rất muốn mời tôi cùng thảo
luận, học tập, và chia sẻ với nhau những trăn trở hay tâm đắc của mình sau khi mắc phải căn bệnh này.
Phần lớn những ai muốn tìm đến tôi, đều là những người đã từng chịu khổ đau, đày ải: Khổ vì bệnh tật
hành hạ ; khổ vì quá trình trị liệu; khổ vì những người bên cạnh không thông cảm; khổ vì bản thân lo sợ ám ảnh
bởi cái chết; thậm chí có người còn khổ vì bị người thân, hay người yêu hắt hủi, ruồng bỏ!
Khi người ta đau khổ, ai cũng hy vọng có người có thể hiểu và thông cảm nỗi khổ trong lòng mình.
Lúc sợ hãi đến nỗi giá lạnh cả tay chân, ai cũng kỳ vọng có đôi bàn tay Phật ấm áp, vĩ đại đến cứu độ
kịp thời.
Lúc vượt qua một đọan đường núi gập ghềnh trong đêm đen, nếu có bạn đồng hành, mình luôn cảm thấy
dễ đi hơn nhiều.
Chỉ mong trong lúc bạn đau khổ, lo buồn, tôi có thể trở thành một người bạn đồng hành, cùng nhau vượt
qua đọan đường nhân sinh nhiều gập ghềnh và đen tối này!
Thoát vòng sợ hãi, hết lòng phụng sự. Học sống một ngày, biết ơn một ngày; học sống một
hôm, biết vui một hôm.
Chúng ta đều là những con người giống nhau, biết khóc, biết cười, biết đau, biết khổ. Dòng máu ai cũng
đỏ, nước mắt của ai cũng mặn! Cho nên, khi gặp phải cảnh khốn khó phải bó tay, ai mà không khỏi lo lắng, sợ
hãi?
Khi biết được trong thân có một cái bướu “ác tính”, không biết nó sẽ hành hạ mình như thế nào, hiếm có
ai mà không lo sợ!
Khi biết rằng mình sắp chết, lại không biết chết rồi sẽ đi về đâu, ai lại không lo sợ, bàng hoàng?
Tôi rất biết ơn sự dạy dỗ của chư Phật, Bồ tát, sư trưởng, cha mẹ và các vị thiện tri thức, đã giúp tôi
thoát ra khỏi vũng tối sợ hãi này.
Tôi cũng biết ơn tất cả bệnh nhân trong bệnh viện trước kia, đã thị hiện dạy cho tôi rất nhiều bài học.
Tôi đã học được làm cách nào để sống qua những ngày tháng như thế này, và học sống một ngày là biết ơn một
ngày; học sống một hôm là biết vui một hôm.
Tôi cũng từng rất đau khổ; đau khổ đến mức không còn cách nào chịu đựng được nữa! Nhưng dựa vào
đức tin, tôi đã tìm lại được những ngày tháng biết ơn và an lạc.
Đã từng có người nghe đến đây lắc đầu bảo: Chúng tôi trước khi mắc bệnh đâu có đức tin như vậy; cũng
không biết Phật là gì, làm sao mà có tâm biết ơn; Lo sợ đến chết đi được, làm sao mà thanh thản như bác sĩ!
Xin bác sĩ hãy nói những điều thực dụng đối với chúng tôi, đừng dính dáng đến kinh Phật, hay những thuật ngữ
khó hiểu.
Cũng từng có bệnh nhân bảo: Tôi hiện giờ còn tâm trí đâu mà nghiên cứu kinh Phật. Trong lòng lo lắng,
mỗi ngày tôi đều tra cứu tài liệu y học, song càng xem lại càng sợ hãi! Có người khuyên nên đọc kinh Phật,
nhưng tâm tôi luôn rối rắm, đọc thứ gì cũng không vô!
Những lời nói này đã phản ánh thực đúng tâm trạng khốn khó của tất cả người bệnh nói chung.
Bản thân tôi không có công phu, cũng không có tư cách, khả năng giảng nói kinh Phật. Tôi chỉ có một
số kinh nghiệm qua sự thấy nghe của mình, từ đó rút ra được những bài học và sức mạnh bổ ích, giúp mình
tháo gỡ những vướng mắc trong tâm. Tuy những kinh nghiệm này rất nghèo nàn, song cũng có thể chia sẻ cùng
bạn. Biết đâu căn cơ của bạn tốt, nhờ đó mà có thể sống vui vẻ, thanh thản hơn tôi nhiều!
Vui vẻ không buồn lo, nên gọi là Phật.
Tôi rất thích lời giải thích Phật là gì của một vị Thiền sư. Đó là Ngài Đạo Tín. Ngài bảo: Vui vẻ không
buồn lo, nên gọi là Phật.1
Trước hết, tôi xin kể ra đây một câu chuyện, hy vọng bạn có thể cảm nhận được đạo lý chứa đựng trong
đó.
Lúc tôi còn là sinh viên ở Học Viện Y Học, năm thứ hai phải học môn giải phẫu, nghiên cứu cấu tạo
toàn bộ xương người. Ví dụ, miếng xương nào có những lỗ gì, có những mạch máu và dây thần kinh nào đi qua
lỗ đó…, đều phải ghi nhớ kỹ không được sai sót. Thi rất là khó, không ít sinh viên bị rớt ở môn này. Tháng
muời năm đó có kỳ nghỉ lễ, tôi tranh thủ thời gian trở về quê ở Đài Nam vài ngày. Nhưng sau kỳ nghỉ là kỳ thi,
cho nên tuy về quê, tôi vẫn đem xương sọ theo học. Chúng tôi học đều dùng xương sọ người thật.
Tôi đem cái xương sọ và vài nhánh xương tương đối phức tạp, đựng trong một túi xách đơn giản, ôm
trước ngực, cùng mọi người chen nhau bước lên xe lửa trở về quê. Lúc đó, tôi chen tới chen lui trong dòng
người đông đảo. Không ai biết trong túi đựng gì, nên ai cũng thản nhiên và không có chuyện gì xảy ra. Sau này
1
Theo Cảnh Đừc Truyền Đăng Lục, Tứ Tổ Đạo Tín Khai thị cho Pháp Dung, hay còn được gọi là Lại Dung (ông Pháp Dung lười):
“Đi đứng nằm ngồi, chạm mặt gặp duyên đều là diệu dụng của Phật”. (T51, no. 2076, p.227, a26-27) Dịch giả chú.
5
tôi mới biết, nếu lúc đó mình đưa xương sọ và mấy khúc xương ra cho mọi người thấy, rồi bảo đó là xương
thật, có lẽ không ai dám đứng gần, không chừng còn nhường chỗ cho mình ngồi nữa!
Thực ra, lúc đó tôi cảm thấy việc này rất bình thường. Bởi vì cha tôi là bác sĩ, trong nhà ai cũng nghĩ đó
là công cụ để dạy học mà thôi.
Hôm sau có một ngừơi chị họ lớn hơn tôi hai tuổi đến chơi.Chị trông thấy tôi ngồi cầm xương sọ, đối
chiếu với hình vẽ trên sách, đọc lẫm nhẫm tiếng Latin, nên hiếu kỳ đến chơi. Chị tươi cười cùng xem với tôi, lại
còn cầm xương sọ lên, đùa bảo: “À, thì ra hai con mắt là hai cái lỗ sâu hoắm, còn lỗ mũi lại bằng phẳng, trông
thực dễ thương!”
Chị vừa xem vừa cười. Không biết lúc đó nghĩ sao tôi lại nói: “Những người này hiến xương cho chúng
ta nghiên cứu, để sau này mình có thể cứu người, cho nên phải tỏ lòng kính trọng và biết ơn…”
Tôi còn chưa nói xong, chị bỗng thét lên một tiếng, quăng xương sọ đang cầm trên tay ra thực xa, khóc
mếu máo, trách tôi: “Sao không nói sớm đó là xương người thật?”
Tôi vội vã xin lỗi, rồi đi nhặt lại xương sọ. Tôi nhìn thấy mặt chị xám xanh, nước mắt ràn rụa, đang ngồi
run rẩy bên cạnh đàn dương cầm. Chị lại nhìn đôi tay của mình, một đôi tay vừa sờ qua xương người chết!
Dường như chị rất ghê sợ nó, không biết phải làm sao! Bỏ đi không được, để đó lại thì ghê!
Tôi thấy vậy mới nói: “Xin lỗi, thì ra chị không biết đó là xương người thật. Nhưng không phải lúc nãy
chị đã xem rất hứng thú hay sao? Xương người cũng không có gì đáng sợ! Tụi em mỗi ngày phải ở chung với
xương người đễ nghiên cứu. Chỉ cần có tâm cung kính là được.”
Tôi lại còn phải nói nhiều và rất nhiều để an ủi chị. Sau đó chị mới hết khóc, cười nói vui vẻ trở lại.
Nhưng từ đó về sau, chị không còn dám sờ đến mấy khúc xương này nữa!
Vì sao tôi phải kể lể dài dòng như vậy?
Bởi vì câu chuyện này đã cho bản thân tôi một bài học lớn. Đó là: con người thực ra đều sống với thế
giới “quan niệm” của mình! Sọ người trước đó và sau không có gì khác nhau, nhưng thái độ tâm lý của chị tôi
lại thay đổi một trời một vực! Thì ra, trước đó chị cho rằng nó chỉ là cái xương sọ giả, một công cụ dạy học làm
bằng nhựa, nên không chút sợ hãi, lại thích thú vưa xem vừa cười. Sau đó chị lại cho rằng: “Thì ra đây là
xương của người chết, thực là kinh khủng!” cho nên mới sợ đến nỗi mặt mày trắng bệch, vội quăng chiếc sọ đó
ra xa!
Cho dù là xương sọ thực, nếu trong quan niệm của mình cho nó là giả, thì cũng không có gì đáng sợ; ta
có thể chơi đùa với nó một cách tự nhiên, vui vẻ. Khi mà trong quan niệm, ta lại đem xương sọ người đơn thuần
liên tưởng đến những câu chuyện ma quỷ mà lúc nhỏ mình bị hù dọa hay tưởng tượng, thì nó sẽ trở thành một
thứ hết sức kinh khủng!
Đối với người không có liên tưởng viễn vông, xương người là thứ rất bình thường, bởi vì tất cả chúng ta
ai cũng có một bộ! Bộ xương của mình được bao bọc bên ngoài bởi lớp thịt da, chẳng phải rất bình thường,
không có chút gì đáng sợ hay sao?
Nhưng người chị họ của tôi khi nghĩ nó là giả, thì vui đùa hết sức tự nhiên; đến khi biết nó là xương
người, lại sợ đến phát khóc, trống ngực đánh dồn dập. Đây là chị bị “quan niệm” và óc tưởng tượng quá đáng
của mình khống chế mới khiến như vậy.
Chúng ta không nên cười chị. Vì thực ra mình cũng không khác gì. Chúng ta đều bị một số quan niệm
và óc tưởng tượng lừa dối. Đây có thể gọi là: Sắc chẳng mê người, người tự mê; xương không đáng sợ, người
tự sợ!
Có rất nhiều lời nói, bản thân nó không làm người ta giận, nhưng người nghe lại tự mình nổi giận. Cũng
vậy, ung thư không làm người ta sợ, mà người ta lại tự sợ. Cái sợ này, có thể khiến người đang không việc gì
mà tim bỗng đập dồn dập, vốn khỏe mạnh mà lập tức suy sụp cả người!
Trạng thái tâm lý, ý niệm có tính quyết định, có sức mạnh không thể nghĩ bàn.
Khi tôi còn làm việc trong bệnh viện, từng phát hiện một sự thật như sau. Bệnh nhân ung thư trị liệu
bằng phóng xạ hay hoá chất, do đó huyết cầu của họ phần lớn sẽ giảm. Nói chung, người bệnh vốn không biết
số lượng huyết cầu mình bao nhiêu, và số lượng nhiều ít có ý nghĩa như thế nào, nhưng họ đều quan niệm số
huyết cầu càng giảm thì càng không tốt. Bệnh viện có tiêu chuẩn, số lượng huyết cầu giảm đến mức độ nào thì
phải tạm ngưng điều trị. Có một số người bệnh vì bạch huyết cầu giảm thấp, nên tạm thời nghỉ ngơi vài ngày.
Khi họ ở nhà cảm thấy sức khoẻ khá hơn, liền trở lại bệnh viện tái khám. Phần lớn những người này đều cho
rằng huyết cầu của mình nhất định sẽ tăng lên. Nên khi bước vào phòng khám, họ thường tươi cười và nói với
tôi: “Mấy hôm nay khá lên nhiều lắm, lại ăn ngon miệng!” Họ cũng vui vẻ đi thử máu lại, rồi đem phiếu xét
nghiệm về cho tôi xem. Lúc tôi đang coi pjiếu xét nghiệm, người bệnh đều hỏi: “Bạch huyết cầu của tôi bao
nhiêu?”
6
Nếu như tôi nói ra số liệu thực sự ghi trên phiếu, có thấp hơn so với lần trước, là điều mà họ không ngờ
đến, thì dường như vẻ mặt ai cũng trầm xuống, tay chân như thoát lực, giọng nói yếu ớt: “Sao lại thấp như
vậy?” Một lát nữa, họ có thể còn suy sụp đến mức không đủ sức đi về nhà!
Chúng ta thử nghĩ xem, cũng là một thân này, mà trước sau chỉ có một giây mà đã khác nhau như trời
vực! Chỉ cần nghe đến con số huyết cầu mà người ta không ngờ đến, thì tâm liền thất vọng và lo lắng! Tình
trạng sức khoẻ mà trước đây mình cho là đã khá hơn bỗng lập tức trở nên suy sụp, yếu đuối! Nó phác tác còn
nhanh hơn bất cứ thuốc độc nào!
Từ chỗ này chúng ta có thể nhận ra một đạo lý.
Đó là tâm niệm của con người có tính quyết định và sức mạnh không thể nghĩ bàn!
Tâm lý ảnh hưởng đến công năng miễn dịch.
Thí nghiệm khoa học cho thấy, sự thay đổi trạng thái tâm lý quả thực có thể sinh ra một số vật chất ảnh
hưởng đến sinh lý. Ví dụ lúc chúng ta nóng giận, trong cơ thể sẽ sinh ra độc tố rất giống hay tương đồng với
nọc rắn.
May mà gan của con người có công năng giải độc, nên những chất độc do nóng giận sinh ra này không
đến nỗi khiến chúng ta mất mạng! Nếu công năng giải độc của ai yếu kém, hoặc cao huyết áp, hay người mắc
bệnh tim, thì chất độc do nóng giận gây ra đủ để làm người đó mất mạng. Cho nên, việc “giải độc” triệt để cần
phải ngay “tâm niệm” của mình mà hạ thủ công phu. Tâm niệm thay đổi, thân thể cũng thay đổi theo.
Viện Nghiên Cứu Ung Thư Quốc Gia ở Mỹ có một công trình nghiên cứu cho thấy: Nhà nghiên cứu có
thể đoán trước đúng một trăm phần trăm người bệnh có chiến thắng được bệnh ung thư trong vòng từ một đến
hai tháng hay không. Điều mà khoa học căn cứ không phải là khối u lớn hay nhỏ hay mọc ở chỗ nào, cũng
không phải căn cứ vào kết quả xét nghiệm theo máy móc, càng không phải là số liệu có được từ kết quả thử
máu, mà hoàn toàn căn cứ vào “trạng thái tâm lý” của người bệnh! Tâm mới chính là gốc rễ của vấn đề.
Có đến hàng ngàn công trình nghiên cứu cho thấy, do chịu áp lực nên khiến cho tuyến ngực teo lại, có
nghĩa là công năng miễn dịch trở nên suy yếu. Theo kết quả thí nghiệm, những trạng thái tâm lý xấu như nóng
giận, lo buồn v.v…. đều có thể đưa đến sự suy yếu công năng miễn dịch, khiến dễ sinh bệnh ung thư và các
bệnh truyền nhiễm khác, cũng như khiến việc điều trị mất đi công hiệu. (Bởi vì cần phải thông qua công năng
miễn dịch của bản thân người bệnh, thì việc trị liệu mới có hiệu quả).
Điều này cho thấy, tâm niệm có sức mạnh vô cùng. Cho nên cần phải đem tâm niệm của mình chuyển
thành tâm niệm Phật. Phật chính là tâm sáng suốt, an vui, không có lo buồn. Nếu niệm Phật, tâm tự nhiên sẽ trở
nên sáng suốt, an lạc và có sức mạnh. Tâm niệm Phật thì vừa có thể buông xả những áp lực, vừa có thể tránh
được những độc tố sinh ra bởi những tâm lý xấu, lại vừa tăng trưởng sức miễn dịch.
Chúng ta cần phải biết rằng, áp lực là do tâm mình tự “tiếp nhận” lấy. Chỉ có những việc mà mình quá
quan tâm, vướng mắc, mới có sức đè nặng lên tâm lý. Nếu thay đổi tâm niệm, không nghĩ rằng đó là gánh nặng,
thì sức ép tự nhiên không còn tồn tại và mình cũng không phải “tiếp nhận” lấy gánh nặng này. Nếu chúng ta
quyết tâm chỉ tiếp nhận ánh sáng của Phật (niệm Phật), thì không còn có tâm nào để tiếp nhận gánh nặng tâm lý
đó nữa. Cho nên cần phải luyện tập: “Nhận hay không nhận là do tự tâm mình quyết định.”
Vạn pháp do tâm tạo, niệm Phật an vui nhất.
Nghiên cứu khoa học cho thấy, khi người ta vui vẻ, bộ não sẽ tiết ra chất hoá học, như chất Endorphins
và Enkephalins. Chất Endorphins giúp tăng sản lượng tế bào T (lymphocyte), giống như tăng thêm số lượng
cảnh vệ, hay quân đội. Còn chất Enkephalins giúp tế bào T tăng thêm sức mạnh để chiến thắng tế bào ung thư,
đồng thời giúp tế bào T trở nên linh hoạt, có hiệu quả hơn.
Cho nên “tâm niệm” chính là vị tổng chỉ huy của đội quân miễn dịch. Đây là kết quả thực nghiệm khoa
học, cũng là chứng minh lời đức Phật dạy: “Vạn pháp duy tâm tạo.”
Người niệm Phật nguyện sinh về thế giới Cực Lạc, chính là nguyện: Không có các khổ, chỉ hưởng an
lạc; hay nói khác đi, chính là nguyện khiến tâm luôn ở trong trạng thái an lạc, vui vẻ. Phật A Di Đà còn được
gọi là Phật Hoan Hỉ Quang, nên thường niệm Phật chính là thường hoan hỉ, thường tạo ra tất cả những chất tăng
thêm sức miễn dịch. Cho nên đức Phật được xưng là Vô Thượng Y Vương, tức là vị Thầy thuốc vua của tất cả
thầy thuốc! Còn hoan hỉ niệm Phật chính là thuốc bổ tốt nhất!
Một tử tù bị lời nói, óc tưởng tượng doạ chết.
Nhà tâm lý học từng làm một thí nghiệm đối với một người tử tù như sau. Họ bịt mắt một người tử tội
và để anh nằm trên một chiếc giường, rồi bảo: “Chúng tôi sẽ cắt đứt gân máu nơi cổ tay anh, máu sẽ chảy ra
từng giọt, từng giọt… Đến khi máu chảy hết, anh sẽ chết!”
Nói xong, họ giả vờ dùng một vật gì đó gạch mạnh lên cổ tay anh ta, song thực ra không có rách da. Kế
đó nhà tâm lý lại dùng nước mà nhiệt độ tương đồng với nhiệt độ máu, nhễu từng giọt, từng giọt lên tay anh ta,
khiến anh có cảm giác thực sự là dòng máu ấm của mình đang chảy. Họ lại dùng một chiếc thùng thiếc đặt phía
7
dưới cánh tay để hứng nước, khiến anh nghe được tiếng tí tách như máu đang nhỏ. Họ lại bảo: “Máu của anh
đang chảy ra từng giọt một, chảy một lát sẽ hết máu. Bây giờ chỉ còn lại vài phút, thời gian sắp đến rồi!”
Quả nhiên thời gian vừa đến, người tử tù đã thực sự chết đi vì sợ!
Thực ra, anh chẳng có chảy một giọt máu nào, cũng không bị rách một chút da, mà hoàn toàn bị lời nói
và cảnh tưởng tượng lừa dối mà chết đi tức tưởi.
Đây là một thí nghiệm tương đối tàn nhẫn, chúng ta tạm gác qua vấn đề này có nhân đạo hay không,
nhưng nó đã chỉ ra một sự thực: Tâm niệm và lòng tin có thể quyết định vận mệnh của chúng ta!
Người tử tội này có thể bảo là một vị Bồ tát! Tuy rằng anh ta bị dọa sợ đến chết, nhưng kết quả cuộc thí
nghiệm này giúp chúng ta phần nào hiểu và tin được đạo lý “tất cả do tâm tạo” của nhà Phật.
Tôi thường kể cho người bệnh nghe về cuộc thí nghiệm này. Trước đó họ rất lo lắng, buồn khổ, nhưng
sau khi thực sự hiểu được đạo lý này, họ biết rằng có thể dùng tâm niệm mình để thay đổi vận mệnh. Cho nên,
họ không còn tự dọa lấy mình, dùng óc tưởng tượng hành hạ bản thân, oan uổng rước lấy lo sợ, đau khổ.
Khơi dậy lòng tin, tế bào sẽ phấn chấn, an vui.
Tôi còn nhớ, lúc nhỏ đã đọc qua một bài tập đọc, được phiên dịch từ tiếng nước ngoài. Sau khi đọc
xong, tôi cảm động đến mức rơi lệ, mãi đến bây giờ vẫn còn ấn tượng rất sâu đậm. Bài văn kể lại câu chuyện
một người bệnh nặng, cảm thấy mình sắp chết. Mỗi ngày người đó nằm trên giường bệnh nhìn ra cửa sổ. Lúc
đó mùa thu sắp qua, chuẩn bị bước vào mùa đông. Mùa đông ở nước ngoài rất lạnh, lá cây rơi rụng trơ trụi.
Người bệnh nhìn lá rụng trong lòng rất cảm thương. Một hôm, người bệnh nằm mơ thấy có người bảo: “Khi
những chiếc lá trên cây bên ngoài cửa sổ hoàn toàn rụng hết, sinh mệnh của anh cũng sẽ kết thúc.”
Khi tỉnh dậy, nhớ đến giấc mộng đêm qua, anh càng bi quan. Mỗi ngày anh nhìn những chiếc lá rơi rụng
mà lòng thấp thỏm âu lo, sức khoẻ sa sút. Thực vậy, mỗi một chiếc lá rụng là tăng thêm một phần sợ hãi, và
giảm đi một phần sức khoẻ của anh.
Có một vị bác sĩ nhân hậu đến thăm, nhận thấy vẻ bi thương của anh mới dọ hỏi và biết được đầu đuôi
câu chuyện. Nghe xong, vị bác sĩ này nghĩ cách giúp đỡ. Sắp đến ngày có tuyết rơi, một buổi tối trời nổi cơn
gió mạnh, giá rét căm căm, dường như tất cả những chiếc lá trên cây đều rơi rụng cả. Trong đêm tối người bệnh
tuy không trông thấy bên ngoài, nhưng trong lòng đoan chắc rằng không còn chiếc lá nào trên cành, trong tâm
hoàn toàn tuyệt vọng. Nhưng sáng sớm hôm sau, người bác sĩ nhân hậu đó lại đến, chỉ cội cây ngoài cửa sổ và
bảo: “Anh xem, lá trên cây đều rơi rụng cả, song có một cành lá vẫn còn kia. Cơn gió mạnh tối qua dù có hung
dữ đến đâu, cũng không làm nó rơi rụng. Đây thực là một phép mầu. Điều này cho thấy bệnh tình của anh nhất
định cũng gặp được phép mầu, sẽ bình phục trở lại!”
Người bệnh nhìn ra ngoài khung cửa sổ, quả nhiên lá cây đều rụng sạch, chỉ còn lại những cành cây trơ
trụi, khẳng khiu. Nhưng kỳ lạ sao, nếu nhìn kỹ, vẫn còn vài chiếc lá nguyên vẹn trên một cành cây. Nhìn thấy
cảnh này, lại nghe lời bác sĩ khích lệ, tinh thần anh phấn chấn trở lại, cả người sung sướng, không bao lâu hết
bệnh, trở lại bình thường.
Các bạn có biết vì sao câu chuyện này khiến tôi cảm động và có ấn tượng sâu sắc hay không? Bởi vì
những chiếc lá còn lại trên cành trải qua cơn giông bão, chính được vị bác sĩ đó vào lúc giữa đêm leo lên cây,
tìm cách dán chặt chúng vào cành, nhằm để an ủi, khích lệ, giúp người bệnh có niềm tin, hy vọng, và vui vẻ
sống.
Những chiếc lá không rụng này tuy giả, nhưng lòng tin của người bệnh là thực, và sức mạnh của nó sinh
ra cũng là sự thực! Từ thực tế này, chúng ta có thể hiểu được “niềm tin” có sức mạnh mang tính quyết định!
Chúng ta có thể quyết định thời gian còn lại của đời mình phải sống an lạc, vui vẻ, không bị bệnh tật ảnh
hưởng! Đây là điều không ai có thể ngăn cản được chúng ta!
Bào thai là khối u lớn nhất trong cơ thể.
Tôi từng đọc qua một câu trong sách y học về khoa phụ sản: “Thai nhi là khối u lớn nhất trong cơ thể!”
Quả thực, thai nhi trong bụng mẹ phân hoá, càng lúc càng lớn, người mẹ không thể nào khống chế được. Ngay
cả nhóm máu của thai nhi cũng có thể khác với mẹ. Người mang thai là người mang trong người một sinh mệnh
khác mà mình không thể khống chế. Trong sách còn bảo đó là khối u lớn nhất trong thân thể con người! Nhưng
tâm lý của người mẹ lại không sợ hãi, phần lớn còn rất vui sướng. Đây là vì người mẹ nhìn thấy phần lớn


Use: 0.1